Ba cõi không an như nhà lửa. Đâu miền chân lạc khỏi tang thương. Người vô thường, cảnh vô thường. Khuyên gọi cùng nhau tỉnh mộng. Quay về biển giác thanh lương.
Dạng xem (Full | List)
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật Học Lược Khảo. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phật Học Lược Khảo. Hiển thị tất cả bài đăng
NĂNG LỰC TRÍ TUỆ Những Lời Dạy Căn Bản Của Phật Giáo Nguyên tác: WISDOM ENERGY, BASIC BUDDHIST TEACHINGS Lama Yeshe và Lama Zopa Rinpoche - Vô Huệ Nguyên dịch Wisdom Publications xuất bản

Chương một:

BƯỚC VÀO CON ĐƯỜNG TÂM LINH
  1.   MỤC ĐÍCH CỦA THIỀN ĐỊNH 


 Tôi muốn nói vài lời giới thiệu về sự thực hành thiền. Rất nhiều người trên thế giới này, Đông phương cũng như Tây phương, thích thiền. Họ bị lôi cuốn vào sự thực hành thiền và họ thực sự tha thiết với nó. Nhưng, gia nhập thì nhiều mà thực sự hiểu nó thì quá ít.

Mỗi người trong chúng ta ở đây đều có một thân xác được cấu tạo bởi xương, thịt, máu huyết ...vân vân...Ngay hiện tại, chúng ta không thể hoàn toàn kiểm soát tất cả thân xác của chúng ta như ý muốn, chúng ta luôn luôn có những vấn đề. Một nhà tỷ phú có thể sở hữu rất nhiều tài sản trên thế giới, nhưng, hãy tạm quên sự giầu sang của ông ta đi, nếu tâm của ông ta bị nhốt trong một thân xác không thể kiểm soát được thì chắc chắn ông ta sẽ đau khổ lắm lắm. Dù giầu hay nghèo, không một người nào trong chúng ta có thể trốn thoát được những vấn đề. Cho dù có cố gắng bằng nhiều cách, chúng ta cũng không bao giờ có thể ngăn cản được những điều khó khăn hay những vấn đề xẩy ra cho chúng ta. Nếu chúng ta thanh toán được vấn đề này, vấn đề khác đã tự động đến thay thế. Những bất mãn và đau khổ tràn ngập thân xác của chúng ta ở bất cứ nơi nào chúng ta đến. Nếu chúng ta dùng trí tuệ để nhìn thật sâu vào trong trái tim của chúng ta về những vấn đề này và hiểu tường tận đường đi nước bước của chúng thì chúng ta sẽ nhanh chóng phát giác được những tình trạng bất mãn khủng khiếp này. Một điều cũng rất rõ và cần biết là nếu chúng ta không có một thân xác không được kiểm soát như thế thì chúng ta cũng sẽ không có một cách nào để kinh nghiệm được những sự đau khổ liên hệ đến nó.

Vấn đề căn bản mà tất cả chúng ta đều có là chúng ta đã không đạt được những gì chúng ta ước muốn nên chúng ta đau khổ. Đó là những gì chúng ta cần cho đời sống vật chất như cơm ăn áo mặc nhưng chúng ta lại muốn tự hào hoặc thích thú về chúng, chúng ta lại muốn có những lời khen tặng và được tâng bốc. Có nhiều cảnh khổ chúng ta có thể nhìn thấy ngay, như một người đói rách vô cùng nghèo túng. Nhưng một cách nào đó, tất cả chúng ta đều là những kẻ đói khát và không thể kiểm soát được những gì chúng ta ước muốn.

Hãy lấy một thí dụ, có những người tốt phước được sinh ra trong một gia đình giầu có. Trong cả cuộc đời của anh ta, có thể anh ta sẽ không kinh nghiệm được một chút gì về sự thiếu thốn vật chất. Anh ta có thể mua được bất cứ gì anh ta muốn và được tự do đi du lịch ở bất cứ nơi nào anh ta thích để hưởng được tất cả những thú vui mà các nền văn hóa khác nhau đem đến. Rồi khi mà không còn một nơi nào để đi, không còn một cái gì để sở hữu, không còn một thú vui nào để hưởng, anh ta vẫn cảm thấy thiếu, vẫn cảm thấy không thỏa mãn nên anh ta vẫn than khổ. Trong trạng thái bất an như vậy, trong tâm trạng bất mãn như vậy, nhiều người đâm ra điên loạn, họ không còn kiểm soát được tình trạng này và bắt đầu thấm mùi tê tái của khổ đau.

Như vậy, một đời sống hoàn toàn sung túc, tràn đầy thú vui thì đau khổ vẫn có ở đó, vẫn hiện diện ngay ở đóù. Sự thật là càng sở hữu vật chất bao nhiêu thì tâm bất mãn càng tăng lên bấy nhiêu, bởi vì sự sở hữu vật chất không có một chút khả năng nào ảnh hưởng đến hoặc cắt đứt được cái mầm mống căn để của khổ đau. Một dòng liên tục của bất mãn, lầm lạc, lo lắng và những liên hệ với chúng vẫn còn đó. Nếu sự tích tụ tất cả những tiện nghi vật chất ở bên ngoài mà thực sự có khả năng loại bỏ được khổ đau thì khổ đau phải chấm dứt và bất mãn phải ngưng đọng mới được. Nhưng cho đến khi nào tâm của chúng ta còn bị ràng buộc với cái thân xác, vẫn còn liên hệ với cái thân xác không thể kiểm soát này thì đau khổ vẫn còn liên tục tiếp diễn.                

Thí dụ, để bảo vệ đôi chân khỏi giẫm phải đá nhọn trên đường chúng ta phải mang giầy dép. Nhưng sự kiện này không hoàn toàn chấm dứt vấn đề. Chính đôi giầy cũng thường mang lại cái đau. Chúng có thể làm đau những ngón chân hoặc cho chúng ta những lúc không thoải mái. Đây hoàn toàn không phải lỗi lầm của những bác thợ giầy. Nếu chân của chúng ta không dài quá, lớn quá, nhậy cảm quá thì những đôi giầy thời trang kia phải hoàn toàn thoải mái cho chúng mới đúng. Như vậy, nếu chúng ta nhìn sâu vào vấn đề chúng ta sẽ khám phá ra cái nguồn gốc không thoải mái này không phải tại những lý do ở bên ngoài mà thực sự những nguyên nhân đang nằm sâu trong cơ thể và tinh thần của chúng ta, chính cơ thể và tâm thần của chúng ta tạo ra tình trạng không thoải mái này.

Đây chỉ là một thí dụ về kinh nghiệm đau khổ qua thân xác của chúng ta. Từ khi sinh ra đến khi lìa cõi đời này, chúng ta đã phải dùng biết bao nhiêu sức lực để bảo vệ cái thân xác này khỏi đau khổ. Thật ra, tất cả mọi người chúng ta chỉ dùng thời giờ để bảo vệ cái thân xác này một cách vô ích, không hữu hiệu, hoàn toàn không mang lại một kết quả nào. Mục  đích của thiền không phải để bảo vệ cái thân xác này. Không bao giờ nên  nghĩ như vậy. Nó có một mục đích cao hơn, giá trị hơn. Dùng thiền để chữa bệnh thân xác hay mưu cầu lợi ích bề ngoài thì thật là vô nghĩa lý và làm mất đi sự diệu dụng của một phương tiện thiện xảo, dùng như vậy nó chỉ cho chúng ta một giá trị nhất thời giống như dùng thuốc aspirin để chữa bệnh nhức đầu. Bệnh nhức đầu có thể hết nhưng không có nghĩa là chúng ta được bảo đảm hoàn toàn. Một thời gian sau nó sẽ trở lại bởi vì phương pháp điều trị này không có khả năng chấm dứt tận gốc rễ của vấn đề, vì thế sự giải quyết chỉ có tính cách tạm thời. Vì sự dễ chịu nhất thời và sự giảm đau tạm có thể dùng những phương tiện bên ngoài, nên không cần phải dùng đến thiền định hay bất cứ một sự thực hành tâm linh nào cho mục đích đó. Chúng ta không nên phung phí sức mạnh của thiền định cho những mục đích hạn hẹp như vậy.

Mục đích chính của thiền là trị bệnh tâm. Mặc dầu thân xác và tâm của chúng ta có những liên hệ nội tại nhưng chính chúng cũng có những hiện tượng hoàn toàn khác nhau. Thân xác của chúng ta là một đối tượng mà mắt của chúng ta có thể nhìn thấy được, nhưng tâm thì không như vậy. Những thành phần trong một gia đình có thể có những nét giống nhau, nhưng mỗi một đứa trẻ lại có một cá tính khác nhau, đức tính khác nhau, sở thích khác nhau...vân vân... Mặc dầu cùng học chung một trường nhưng sự thông minh, sự hấp thụ bài học của mỗi học sinh lại hoàn toàn khác nhau, vì chúng ảnh hưởng từ cha mẹ hay ông bà chúng. Sự khác biệt tinh thần không thể giải thích bằng những phương pháp vật lý.

Một điều cũng cần nói đến ở đây, có những đứa trẻ nhớ rất rõ và chính xác những gì xẩy ra trong kiếp trước của chúng. Chúng có thể nói nơi nào chúng đã sinh ra, chúng sinh sống như thế nào ...vân vân... chúng còn có thể nhận diện được người và sự vật trong kiếp trước của chúng. Những sự kiện này có thể kiểm chứng được, đây là những bằng chứng hiển nhiên và xác thực cho bất cứ người nào muốn nghiên cứu lãnh vực này với một tâm vô tư không thiên kiến.

Trong bất cứ trường hợp nào cũng đều có một lý do ẩn sâu khác biệt ở tính bẩm sinh của mỗi thành phần trong gia đình, ở mỗi người và đặc biệt ở một số trẻ chúng nhớ được những kiếp trước của chúng, tất cả những sự kiện này cho chúng ta biết một sự thật: tâm của chúng ta không có một chỗ bắt đầu nhất định. Kiếp trước thật sự có. Chúng ta không đi sâu vào vấn đề huyền bí ở đây về sự tiếp nối của kiếp này và kiếp khác, một điều quan trọng cần nhớ là: tâm của chúng ta liên tục từ kiếp này qua kiếp khác, vậy thì nó có thể mang những gì ở hiện tại qua tương lai. Đời sống của chúng ta trong hiện tại là kết quả từ những hành động, của cả tinh thần lẫn thể xác, mà chúng ta đã tạo ra trong kiếp trước. Cũng như thế, những hành động của chúng ta đang làm trong kiếp này sẽ xác định đời sống cho kiếp sau của chúng ta. Vì thế, trách nhiệm hình thành tất cả những gì trong cuộc sống đang nằm trong tay của chính chúng ta. Thật là vô cùng quan trọng khi nhận ra được vấn đề này nếu chúng ta muốn đi tìm những ý nghĩa đích thực cho việc cắt đứt toàn diện những đau khổ tinh thần lẫn thể xác.

Mỗi một người chúng ta đã từng sinh ra làm người. Như vậy, chúng ta có cơ hội đem lại cho đời sống của chính chúng ta một ý nghĩa và mục đích. Để chiếm lấy tất cả những lợi ích này, chúng ta cần phải đi ngược lại những gì mà loài thú thấp hơn có thể làm được. Nhờ hiểu biết về sự tái sinh và nhờ kiểm soát được tâm của chính mình, chúng ta có thể kiếm tìm được căn nguyên của tất cả mọi đau khổ. Chúng ta có thể giải thoát khỏi vòng luân hồi chết và tái sinh chỉ trong một vài kiếp sống. Chúng ta cứ phải trôi lăn vào vòng sinh tử mà không có một sự lựa chọn hay kiểm soát nào, nó là như vậy, chúng ta đã kinh nghiệm biết bao nhiêu là đau khổ về một cái thân xác không thể kiểm soát được. Nhưng với một ý chí quyết tâm thực hành, cái vòng luân hồi này sẽ bị phá hủy hoàn toàn, chúng ta sẽ được giải thoát khỏi đau khổ và bất mãn một cách trọn vẹn viên mãn.

Tuy nhiên, chỉ chạy trốn khỏi luân hồi sinh tử cho chúng ta thôi thì không được, chưa đủ. Đây không phải là một cách áp dụng khôn ngoan cho đời sống làm người của chúng ta. Không phải chỉ một mình chúng ta bị đau khổ và bất mãn mà tất cả những chúng sinh khác cũng đang chịu như chúng ta. Nhưng, hầu như họ thiếu trí tuệ -con mắt Đạo pháp- để tìm con đường đúng mà chấm dứt hoàn toàn đau khổ. Không trừ một ai, tất cả mọi chúng sinh trên mặt đất này đều dành trọn vẹn cả cuộc đời để tìm cách thoát khỏi khổ đau, tìm kiếm hạnh phúc và an lạc. Nhưng tâm của họ tràn đầy u minh tăm tối, sự kiếm tìm của họ rơi vào hão huyền lạc lõng. Tâm vô minh, thay vì hướng dẫn họ đi tới mục tiêu phúc lạc, nó lại dẫn họ từ khổ đau này đến bất mãn khác. Họ cố gắng loại bỏ những nguyên nhân của khổ đau, nhưng bất hạnh thay mỗi ngày họ lại đi xa niết bàn hơn.

Tất cả chúng sinh đều bị khổ và đều mong muốn thoát khổ như chính chúng ta. Nếu chúng ta nhận thức được điều này, chúng ta sẽ hiểu được sự ích kỷ của chúng ta khi chúng ta chỉ mong giải thoát, vào niết bàn một mình. Tốt hơn chúng ta hãy cầu mong cho tất cả đều được giải thoát. Nhưng trước khi có thể dẫn dắt người khác vào con đường chấm dứt khổ đau, chính chúng ta phải là người giác ngộ trước. Nói khác đi, chính chúng ta cần phải tinh tiến trên con đường tu tập giải thoát để có thể hướng dẫn người khác.

Vấn đề này có thể cắt nghĩa như sau: gỉa sử chúng ta muốn đem một người bạn đi ngắm cảnh ở một công viên nào đó, nếu chúng ta bị mù thì không có cách chi chúng ta có thể dẫn cô ta đến đó được, mặc dầu chúng ta muốn lắm. Điều kiện tiên quyết là chúng ta phải có một cặp mắt tốt và phải biết đường đi đến công viên. Cũng giống như vậy, chúng ta phải có kinh nghiệm về con đường giác ngộ trước khi chúng ta có thể chỉ cho người khác, mỗi người sinh ra khác nhau, từ tính tình cho đến đời sống, nên con đường dẫn đến giải thoát cũng khác nhau.

Vậy, mỗi khi nói về mục đích của thiền định là chúng ta nói về sự đạt giác ngộ, một sự thành đạt chẳúng những cho chính chúng ta mà còn cho tất cả những người khác nữa. Đây là mục đích và cũng là lý do chính yếu khi chúng ta bước chân vào con đường thiền định. Tất cả các vị đạo sư du gìa cũng như tất cả các bậc thầy về thiền định trong qúa khứ đều đã thực hành Đạo pháp theo tâm nguyện đó. Giống như vậy, khi chúng ta bước chân vào con đường thiền định - theo Đức Phật, có hàng ngàn hàng ngàn phương pháp thực tập thiền định khác nhau, tùy theo căn cơ của mỗi người - chúng ta nên có những động năng thúc đẩy này.

Sự thực hành tâm linh thật là cần thiết. Chúng ta không thiền chỉ vì bắt chước một phe nhóm nào, một người nào hay ngay cả vì Thượng đế. Nhưng chỉ vì trách nhiệm của chúng ta đối với chính sự đau khổ của chúng ta, chính chúng ta chịu trách nhiệm bảo vệ chúng ta. Chúng ta tự đứng lên đi tìm hiểu chính mình và cũng chính chúng ta tạo ra hoàn cảnh cho mình để tự giải thoát. Do đó, vì đau khổ đã dày vò cuộc đời chúng ta, nên chính chúng ta phải làm một cái gì cho cuộc sống hàng ngày của chúng ta. “Một cái gì” này chính là sự thực hành tâm linh, hay nói một cách khác, chính là thiền định. Nếu chúng ta không quay trở vào bên trong để huấn luyện tâm ta mà cứ dồn hết năng lực vào việc sắp xếp rồi lại sắp xếp những chương trình cho cuộc đời vật chất hiện tại này thì khổ đau vẫn còn đó, cứ mãi mãi tiếp tục. Khổ đau không có chỗ bắt đầu, nếu không thực hành một phương pháp tâm linh hữu hiệu thì khổ đau cũng không có chỗ chấm dứt.

Nói một cách tổng quát, thật là khó thực hành Đạo pháp trong một môi trường sống tràn đầy vật chất như ngày nay. Vì có qúa nhiều trở ngại, có qúa nhiều điều hấp dẫn hơn sự tu tập thiền định. Tuy nhiên, căn bản của những điều cản trở này lại không phải là nguyên nhân và môi trường của chính nó. Khổ đau không tại những nhà máy trong khu kỹ nghệ, nó không phải tại đồ ăn thức uống của chúng ta, cũng không phải tại bất cứ cái gì khác. Nó đang nằm ngay trong tâm của chính chúng ta. Đây là điểm rất ngạc nhiên cho tôi trong thời gian này, chuyến thăm viếng đầu tiên của tôi qua Tây phương, để thấy tận mắt bên cạnh sự tiến bộ vật chất là sự thích thú thực hành Đạo pháp và thiền định trong nhiều chiều hướng khác nhau của người Tây phương. Có rất nhiều người chân thành đi tìm một ý nghĩa cao cả hơn cho cuộc đời của con người, họ cố gắng chuyển hóa mỗi ngày. Với lòng ngưỡng mộ đặc biệt, tôi nghĩ  rằng đây là một việc làm rất khôn ngoan khi con người biết cố gắng hoà hợp đời sống vật chất và đời sống tinh thần, có một đời sống sâu xa về nội tâm cũng như một đời sống đầy đủ tiện nghi cho thể xác. Với những người như vậy đời sống chắc chắn không phải là một sự hứa hẹn trống rỗng.

Món ăn mà được chế tạo bởi nhiều thực phẩm khác nhau thì chắc chắn phải ngon. Cũng vậy, nếu chúng ta có những công việc làm, có những hoạt động và cố gắng thật nhiều cho việc kiện toàn con đường tâm linh theo Đạo pháp thì đời sống của chúng ta thật là phong phú. Sự lợi lạc, ơn ích mà chúng ta có được nhờ biết kết hợp hai lãnh vực này thì thực là vĩ đại bao la.

Có một sự khác biệt rất lớn giữa tâm, xúc cảm và những kinh nghiệm của một người biết áp dụng Đạo pháp vào cuộc đời của họ và một người không biết áp dụng. Trong lúc phải đương đầu với những khó khăn của cuộc sống tràn đầy vật chất này, người biết áp dụng Đạo pháp sẽ ít lầm lẫn hơn và kinh nghiệm cuộc đời ít đau khổ hơn. Họ biết kiểm soát tâm và biết phải làm gì ở bên trong tâm của họ để sẵn sàng giải quyết những vấn đề xẩy ra một cách thành thạo, khôn ngoan. Sự áp dụng này không phải chỉ cần cho đời sống thường ngày của họ mà đặc biệt ngay cả trong lúc họ chết.

Nếu chúng ta không bao giờ thực hành đời sống tâm linh thì chúng ta sẽ không bao giờ huấn luyện được tâm của chúng ta qua kỷ luật thiền định, rồi khi sự chết đến, chúng ta sẽ phải chiến đấu rất gay go. Sự lợi ích quan trọng nhất mà một người thực hành Đạo pháp có được là họ coi cái chết như là một cuộc hành trình đầy vui thú trở về nhà. Nó giống như là đi đến dạo chơi trong một công viên tuyệt đẹp. Và ngay cho cả những người chưa đạt giác ngộ trong thiền định thì cái chết đối với họ cũng nhẹ nhàng, không đáng sợ hãi. Có những người đối diện sự chết --chúng ta không thể tránh được -- với một cái tâm thật bình thản. Họ không sợ hãi chút nào, không lo âu về những điều mà họ sẽ gặp hay về những người thân yêu, về của cải và ngay cả về chính thân xác của họ. Trong cuộc đời này chúng ta đã kinh nghiệm sự sinh ra và bây giờ chúng ta đang kinh nghiệm về tiến trình gìa. Chỉ duy nhất có một sự kiện mà tất cả chúng ta đang phải đi đến chính là sự chết. Vì thế, sự thực hành tâm linh sẽ giúp chúng ta đối diện với một sự kiện không thể tránh được một cách bình thản an nhiên, như vậy sự thực hành thiền định mới có ích lợi -- mặc dầu nó còn có những mục đích cao hơn nữa mà chúng ta có thể áp dụng.

Để tóm tắt, không còn một sự kiện bên ngoài nào của thiền định có vẻ quan trọng hơn nữa. Mặc dù chúng ta ngồi xếp tay theo kiểu này hay xếp chân theo kiểu kia thì cũng chỉ có một chút ảnh hưởng mà thôi. Điều vô cùng quan trọng trong con đường tu tập là kiểm soát xem, theo dõi xem phương pháp thiền định mà chúng ta đang áp dụng có thực sự giải thoát chúng ta ra khỏi đau khổ hay không. Nó có chấm dứt những sự kiện hão huyền, huyễn ảo đang diễn ra ở trong tâm của chúng ta không? Nó có chấm dứt được tham sân si không? Nếu nó thực sự giúp chúng ta giảm được những thái độ tiêu cực của tâm thì đó là sự thiền định hoàn hảo, sự thực hành đúng và có giá trị. Nhưng, nói một cách khác, nếu nó chỉ làm tăng thêm những thái độ tiêu cực, xấu (như tăng lòng kiêu mạn,) thì đó lại là một nguyên nhân khác đem lại đau khổ. Trong trường hợp này, dù chúng ta có nói là chúng ta đang thiền, đang tham dự những khóa tu tập, thì đó chẳng phải là thực hành tâm linh hay thực hành Đạo pháp một chút nào.

Đạo pháp hướng dẫn chúng ta ra khỏi khổ đau, ra khỏi những sự rắc rối. Nếu sự thực hành không dẫn chúng ta theo đường hướng này thì đã có một cái gì sai lầm trong đó mà chúng ta cần phải khám xét lại. Thực ra, cốt tủy của việc thực hành Đạo pháp của tất cả các vị hành gỉa là khám phá xem những hành động nào của họ mang lại khổ đau và những hành động nào của họ là nguyên nhân của hạnh phúc. Từ đó, họ áp dụng sự thực hành vào việc tránh khổ đau và tạo thêm hạnh phúc càng nhiều càng tốt. Đây mới là cốt tủy của thiền định, đây mới là tinh yếu của Đạo pháp.


Tóm lại, tất cả chúng ta là những người bắt đầu bước chân vào con đường thực hành Đạo -- bắt đầu thiền định và thực tập kiểm soát tâm -- chúng ta cần phải tin tưởng vào những nguồn giáo lý, những sự dậy bảo. Chúng ta nên đọc những cuốn sách có giá trị, khi có sự nghi ngờ hay thắc mắc, chúng ta nên hỏi những bậc thầy, những bậc đã thực sự tu tập, chuyên cần thực hành và đã có những chứng nghiệm trên con đường tâm linh mà họ đi. Đây là một điều vô cùng quan trọng. Nếu chúng ta chỉ theo sự chỉ dẫn của sách vở thì đây là một việc vô cùng nguy hiểm cho con đường tu tập của chúng ta. Ngay cả việc chọn lựa một vị thầy, một vị đạo sư hay một vị lạt ma. Hãy chọn cho đúng. Họ phải là những người có thực chứng, đã từng thực hành và sống trong Đạo pháp.

Sự thực hành thiền định của chúng ta, sự thực hành con đường tâm linh của chúng ta không thể tiêu cực, không thể có những thái độ thụ động được. Chúng ta không thể nào phá vỡ được sự kiên cố của đau khổ bằng một sự mù quáng, nhẹ dạ khi đặt niềm tin vào một vị nào đó --ngay cả một đại sư -- bảo chúng ta làm điều này, việc kia. Tốt hơn chúng ta nên sử dụng sự thông minh nội tâm của chính chúng ta để xác nhận, để tìm kiếm những phương pháp thích hợp hầu mang lại nhiều kết qủa hơn. Nếu chúng ta đã có đầy đủ những lý do tốt lành để tin tưởng rằng sự dậy bảo này có giá trị và hữu ích thì chúng ta nên thực sự thiết tha và chân thành theo đuổi nó. Giống như việc chọn thuốc, một khi chúng ta đã chọn được đúng loại thuốc chữa lành căn bệnh của chúng ta thì chúng ta phải dùng ngay lập tức. Nếu không, chúng ta cứ uống đại bất cứ loại thuốc nào mà chúng ta có thì chúng ta chẳng những không khỏi bệnh mà còn mang thêm bệnh vào người.

Đây là lời khuyên cuối cùng của tôi cho những người nào muốn bước chân vào con đường thiền định và tu tập Đạo pháp. Con đường tâm linh rất là thâm diệu bao la, nếu chúng ta không thể thực hành Đạo pháp mà chỉ học hỏi tìm hiểu nó thôi thì nó cũng hữu ích cho cuộc đời của chúng ta rất nhiều. Đó là tất cả những gì tôi muốn chia sẻ.
NĂNG LỰC TRÍ TUỆ Những Lời Dạy Căn Bản Của Phật Giáo Nguyên tác: WISDOM ENERGY, BASIC BUDDHIST TEACHINGS Lama Yeshe và Lama Zopa Rinpoche - Vô Huệ Nguyên dịch Wisdom Publications xuất bản

2.   ĐỂ TIẾN TỚI VIỆC NGHIÊN CỨU PHẬT PHÁP


 Tôi rất hân hạnh được gặp Trungpa Rinpoche (Rinpoche là danh từ Tây tạng chỉ những bậc thầy đáng tôn qúi, thường là những vị tái sinh -Dg) và tất cả qúy vị ở đây. Tôi được Trungpa Rinpoche cho biết qúy vị rất mong muốn tìm hiểu con đường dẫn đến giải thoát, sự giải thoát nội tâm. Tôi rất thích khi được biết như vậy. Thực ra, tôi không có ý thuyết giảng cho qúy vị ngày hôm nay. Tôi chỉ đến đây để thăm viếng tu viện Naropa và như qúy vị đã biết người đi du lịch thường hay nói những gì!


Tất cả qúy vị ở đây thật có phước. Qúy vị đến với trí tuệ của Phật và chắc chắn qúy vị sẽ có cơ hội để thực hành trí tuệ này. Rất nhiều người đã không hiểu được những cơ duyên và những cơ hội hiếm có khi được tiếp xúc với Phật Pháp. Họ cho rằng đây chỉ là một sự tình cờ có được một tư tưởng hay được gặp một người. Nhưng không phải như vậy. Không có gì xẩy ra mà không có nguyên nhân, cái gì cũng có nhân và qủa. Vì thế qúy vị đừng nên nghĩ và đón nhận Phật Pháp như là một món qùa tặng. Bởi vì rất khó và rất hiếm mà có được, nên qúy vị hãy đón nhận nó bằng tất cả tấm lòng chân thành và trân qúi của qúy vị.


Cũng có thể có những sự hiểu lầm về những kết qủa khi tiếp xúc với Phật Pháp. Như nghĩ: “Hôm nay tôi được dậy bảo nhưng phải đợi đến một năm nữa tôi mới thực sự nhận ra nó, mới chứng nghiệm được nó.” Họ thất vọng vì con đường đạt giác ngộ qúa xa. Người thời nay không nhận ra được cái gì đang ở ngay trước mắt của họ! Mỗi khi chúng ta đến với Phật Pháp, nếu chúng ta mở hết tâm hồn của chúng ta ra bằng một tấm lòng thực sự chân thành thì chúng ta sẽ nhận được sự đáp ứng ngay lập tức. Chúng ta sẽ nhận ra một cái gì mới lạ và sâu đậm về chính chúng ta, về thế giới chung quanh chúng ta và về hiệu qủa của những gì chúng ta đang suy niệm. Nếu chúng ta suy gẫm những lời dậy bảo vào buổi sáng, có thể buổi chiều chúng ta đã nhận ra kết qủa. Không cần phải đợi đến tương lai mới nhận ra nó.


Qúy vị là những người thực sự có diễm phúc được đến với Phật Pháp qua vị Rinpoche khả ái của qúy vị nên qúy vị không nên chậm trễ trong việc thực hành. Nếu qúy vị chỉ lo sưu tầm tích trữ Đạo Pháp thì qúy vị đã tạo thêm rắc rối cho qúy vị rồi đó. Nếu như vậy thì những lời dậy bảo đầy minh triết và đầy lý luận cũng sẽ chỉ là sự thông minh và lý luận mà thôi. Chúng ta thường bị quyến dũ bởi những triết thuyết uyên thâm của Đạo Phật và bởi những danh từ chuyên môn huyền bí phức tạp của nó, phần đông chúng ta hăng say đón nhận những lời giải thích về Đạo pháp theo chiều hướng này. Những kiểu thông minh như vậy, những lối đón nhận Đạo Pháp mà không thực hành Đạo Pháp thì chỉ tích tụ thêm những nguyên nhân tạo thêm rắc rối, tạo thêm bất mãn trong tâm mà thôi.


Rất dễ có loại hiểu lầm này khi đến với Phật Pháp. Chúng ta thường quan tâm hay thường chỉ để ý đến những danh từ và sự diễn dịch của nó mỗi khi chúng ta học hỏi một vấn đề gì. Nhưng trong một Đạo viện, như Đạo viện Naropa này, thì vấn đề từ ngữ không nên qúa coi trọng. Chúng thuần túy chỉ là những tấm bảng chỉ đường đi đến trí tuệ mà thôi, chúng không phải là trí tuệ. Mục đích chính trong việc học tập ở đây là có được những chứng nghiệm Đạo Pháp ở nội tâm. Qúy vị phải tự chứng nghiệm những lời dậy bảo trong tâm của qúy vị thay vì đợi Đạo Pháp mang ơn ích lại cho tâm của qúy vị. Nếu qúy vị ý thức sâu xa được vấn đề này và chân thành mở thật rộng tâm hồn ra thì sự giải thoát sẽ đến một cách dễ dàng. Hoàn toàn tùy thuộc vào sự ý thức và tỉnh thức của qúy vị. Chiếc chìa khóa để thâu thập kết qủa trong Đạo Pháp là luôn luôn cố gắng tìm hiểu xem làm thế nào những lời dậy bảo có thể đem áp dụng thích hợp cho mọi sinh hoạt trong đời sống thường ngày của chúng ta.


Nếu chúng ta đón nhận Đạo Pháp chỉ bằng trí thông minh khô cằn thì những triết giáo chúng ta học hỏi được cũng chỉ mang lại cho chúng ta những cảm nghĩ mâu thuẫn và những cảm thọ xung khắc mà thôi. Vì thế, thay vì tinh tấn trong tinh thần thì lại bị bệnh tâm thần. Kết quả này không phải tại giáo pháp. Nó cũng không có nghĩa là có một cái gì đó sai quấy trong sự trong sáng và minh triết của tư tưởng, nó chỉ là sự khác biệt của loại trí thông minh khô cằn. Nguồn gốc của vấn đề là thái độ thu nhận Đạo Pháp. Nếu chúng ta thực sự chân thành tiếp nhận những lời dậy bảo bằng cả tâm hồn mở rộng của chúng ta để tự chứng nghiệm những gì đã học hỏi được thì giáo pháp và những triết thuyết sẽ ơn ích vô cùng. Càng học hỏi, càng có nhiều ơn ích. Không có gì phức tạp khó hiểu cả. Nhưng, nếu chúng ta đọc vội vàng, ngấu nghiến những lời dậy bảo mà không chịu ngừng lại để tiêu hóa chúng thì chúng ta chỉ kinh nghiệm được khổ đau trong một tinh thần chất đầy bất mãn mà thôi. Thí dụ, quý vị có thể hãnh diện về những tài liệu, sách vở và sự hiểu biết mà quý vị tích trữ, thâu thập được; một cách không cần tiêu hóa chúng, quý vị tuyên bố rằng qúy vị biết nhiều về Đạo Phật, quan niệm của quý vị tốt hơn, vượt xa những người khác. Quan niệm này sẽ chẳng hướng dẫn quý vị đến đâu cả mà chỉ gây thêm rắc rối cho chính quý vị và cho những người khác.


Tại sao những loại thông minh này lại đang gây rắc rối cho thời buổi này? Có thể một vấn đề nào đó đang hoành hành ở thời đại phát triển vật chất ngày nay. Người ta vẫn tiếp tục ham muốn những cái gì mới lạ, mà không bao giờ bằng lòng với những sản phẩm mà kỹ thuật tân tiến đang cung cấp cho. Vì thế, người ta thích chạy theo những tư tưởng khích động lòng ham muốn của họ rồi họ bị mê mệt bởi những mục tiêu không giới hạn mà họ nghĩ rằng họ có thể chiếm đoạt được. Họ cảm thấy không có gì là nguy hiểm khi buồn bực và khó chịu, bởi vì sự học hỏi thì cứ tiến tới không giới hạn và không ngừng. Với một thái độ như vậy mà hướng về một cái tâm có khả năng bất tận thì cũng chẳng có giá trị gì với trí tuệ -sự thông minh chân thật. Nó chỉ mang lại những mê tín về chân tính mà thôi. Loại thông minh vồ chụp này chỉ phản ảnh những gì đang nằm sâu trong sự mê tín mà nó đã được tích trữ từ lâu để mang lại những niềm vui, sự an toàn và ngay cả sự giải thoát tạm thời.


Đừng coi những lời nói của tôi như là một sự khủng hoảng. Điểm mà tôi muốn nhấn mạnh là chúng ta nên kiểm điểm tâm ta một cách vô cùng khôn ngoan và sâu thẳm.Tại sao chúng ta lại muốn tìm hiểu học hỏi những lời dậy bảo của Đức Phật, và chúng thực sự có ý nghĩa gì trong những sinh hoạt hàng ngày của chúng ta? Chúng ta có thể nghĩ rằng chúng ta đang theo đuổi con đường dẫn đến giác ngộ, nhưng khi thực sự đi vào vấn đề thì chúng ta thực hành nó ra sao? Nếu chúng ta thực tình đi sâu vào vấn đề, có thể chúng ta sẽ nhận ra được những gì chúng ta đã thực hiện. Nhưng nếu chúng ta đã kiểm soát kỹ rồi mà chúng ta vẫn không nhận thấy chúng quan trọng, chúng chỉ là những khía cạnh của cuộc đời, thì có lẽ chúng ta đã không tiêu hoá những lời dậy bảo mà chúng ta đã nhận được.


Chúng ta đang nghiên cứu học hỏi và thực hành Phật pháp, nhưng chúng ta đã chẳng bao giờ tự hỏi chúng ta cái ý nghĩa chân thực của qui y Phật, Pháp và Tăng là gì? Nếu chúng ta đã suy nghĩ về những điều này và đã có ngay một câu trả lời - như  chúng ta đang viết một bài khảo luận- thì có lẽ cũng chẳng có gì xảy ra nơi tâm của chúng ta. Rồi chúng ta vội vàng đi đến kết luận là qui y chẳng có ý nghĩa gì hết. Đây là một sai lầm đáng buồn. Mặc dầu chúng ta có thể có hàng chuỗi dài những định nghĩa bóng bảy đi nữa, sự qui y cũng vẫn chẳng có ý nghĩa gì với chúng ta nếu chúng ta không qui y bằng cả trái tim chân thành mở rộng của chúng ta. Như vậy, sự tìm hiểu chân thật sẽ cho chúng ta hiểu được rằng chúng ta đã không tiêu hoá cái gì mới thực sự là qui y. Chúng ta đã tự loại bỏ chúng ta ra khỏi sự độ trì và an bình của Tam Bảo.


Nếu chúng ta nghiên cứu Phật Pháp bằng một cái tâm hoàn toàn cởi mở và chân thành, cố gắng đi tìm những câu trả lời cho những vấn đề hàng ngày của chúng ta, thì qui y thực sự đem lại rất nhiều ý nghĩa. Từ những kinh nghiệm riêng của chúng ta, chúng ta đã biết được những gía trị thăng tiến vượt bực của Đức Phật về một tâm toàn giác. Chúng ta sẽ nhìn thấy một cách vô cùng trong sáng thế nào là lòng từ bi giác ngộ, nó vượt xa những gì gọi là ràng buộc và ham muốn thường tình, nó  cho chúng ta những khả năng đem lại hạnh phúc cho chính mình và cho những người khác. Bằng cách này, câu trả lời cho câu hỏi qui y sẽ đến ngay từ trái tim của chúng ta chứ không phải bằng môi miệng.


Điều này không có nghĩa là chúng ta nên chấp nhận một cách mù quáng, đơn giản vì nó là những lời dạy bảo của lạt ma. Đây là một sự sai lầm trầm trọng như chính những sự thông minh hoá. Điều vô cùng quan trọng là chúng ta nên hiểu những lời dậy bảo bằng chính sự tỉnh thức sâu xa của chúng ta. Chúng ta phải kiểm chứng những sự thật mà chúng ta đã và đang được dậy bảo, không nên chấp nhận nó chỉ vì nó được nói ra bởi những người mặc chiếc áo thầy tu, hay hoàn toàn ôm giữ nó bằng trí thông minh của chúng ta. Không có một chỗ nào trong Phật giáo dành cho những kiểu mơ mộng hão huyền của loại tâm linh siêu thị. (Đệ nhất nguyên nhân gây khổ đau cho chúng sinh là vô minh, ý nghĩa đơn giản của vô minh là không sáng suốt, không biết, không hiểu mọi hiện tượng xẩy ra. Vì thế, chiếc chìa khóa đầu tiên và duy nhất để đối trị căn bệnh này chính là trí tuệ, ý nghĩa đơn giản của trí tuệ là hiểu mọi hiện tượng như nó là. Trí tuệ chỉ đến sau khi chính mình -không phải ai khác- thành tâm thực hành Đạo Pháp, trí tuệ không đến qua kinh sách, lạt ma, đền chùa hoặc bất cứ sự kiện bên ngoài nào; nếu có thì đây chỉ là trí thông minh bình thường mà thôi, không phải trí tuệ -Trí Bát Nhã - trí thông minh cũng chỉ đem lại khổ đau, một loại vô-minh-thông- minh. -  Dg)


Khi chúng ta đã nghiên cứu học hỏi lâu rồi mà vẫn còn trở ngại với những kinh nghiệm cảm thọ thường tình, chúng ta có khuynh hướng đi khiển trách vị lạt ma hay vị thầy của chúng ta. Trong lúc này chúng ta nên tự vấn chính mình xem chúng ta có làm một điều gì hơn sự đòi hỏi của tri kiến hay không. Thái độ của chúng ta có hoàn toàn thay đổi không? Trong trường hợp này có thể chúng ta đã đầu độc tâm ta. Để tránh sự ô nhiễm này, Đạo Pháp đặc biệt chú trọng đến vấn đề học tập và thực hành không được xa rời nhau.


Cái gì chúng ta đã thực hiện qua thân khẩu và ý của chúng ta thì quan trọng hơn những gì chúng ta đã sưu tập được từ sách vở rất nhiều, hay ngay cả từ những điều học hỏi được ở những vị lạt ma, những vị thầy, những vị đạo sư hoặc từ bất cứ ai. Trách nhiệm về sự giải thoát và giác ngộ nằm ngay trong ta, không phải ở một vị lạt ma hay ở bất cứ một vị thầy nào. Sự đạt đạo được lớn mạnh từ cá tính và khả năng của chính ta chứ không phải từ bất cứ ai. Thật là sai lầm khi chúng ta khấn xin, “Lạy lạt ma, con có thể làm gì đây?” Đây là một sự thật, hãy làm với tất cả những gì chúng ta có -bằng chính khả năng của chúng ta - điều này xác định hiệu qủa của sự thực hành tâm linh.


Theo ý nghĩa thâm sâu của Đạo Pháp, chẳng những chúng ta phải chịu trách nhiệm về những bối rối lầm lẫn và đau khổ của chúng ta mà chúng ta còn phải chịu trách nhiệm cho cả những sự buông xả của chúng ta nữa. Nếu sự học hỏi Phật Pháp mang lại những phẫn uất cho tâm của chúng ta thì đó chính là chúng ta đã thất bại trong việc phát triển sự học hỏi đó ra trong ý nghĩ và hành động của chúng ta. Tuy nhiên, nếu chúng ta biết làm thế nào tiêu hoá được những gì chúng ta đã học, ngay cả một điều nhỏ mọn, thì nó cũng mang lại rất nhiều ơn ích cho tâm chúng ta. Giống như một miếng chocolate hay một miếng bánh rất ngon; sự hiểu biết tầm thường không thể so sánh được với nó. Sự hiểu biết tầm thường không thể cho một hình ảnh nào về sự chân thực, về thực tướng, vì thiếu trực giác.

Như tôi đã nói, nếu chúng ta đem thực hành những gì chúng ta đã học hỏi được thì chúng ta không cần đợi kết qủa. Ơn ích sẽ đến ngay. Tôi qủa quyết rằng những người nào trong qúy vị ở đây đã có kinh nghiệm về thiền định đều nhìn nhận tất cả những khó khăn xảy ra thường ngày đều được giải quyết một cách tốt đẹp, nhanh chóng. Sự thật đã xảy ra như vậy, mặc dầu chỉ có một thời gian thiền định ngắn thôi cũng mang lại sự bình an lâu dài, qúy vị đã có những kinh nghiệm này, phải không? Mỗi khi chúng ta có sự an tĩnh tại nội tâm, mỗi khi chúng ta đem áp dụng sự bình an nộâi tại này là chúng ta thực sự tu tập, vì thế chúng ta sẽ dễ dàng giải quyết được những vấn đề. Không có sự an bình này, việc tu tập chỉ đem đến cho chúng ta những xung động mà thôi. Vì nội tâm luôn bận rộn với những ý tưởng xung đột nên nó không còn một chỗ nào cho Đạo Pháp.


Những lời dạy bảo của Đức Phật rất đơn giản và ngay thẳng. Nếu chúng ta thấy nó phức tạp chỉ vì chúng ta đã tạo ra như vậy. Có thể chúng ta nghĩ, “ Tôi có bằng tiến sĩ, tôi hiểu tất cả những tư tưởng này, nhưng tôi vẫn không tìm ra được một phương pháp nào để thực hành Đạo Pháp.”  Liều thuốc để chữa căn bệnh này là hãy tự nhìn sâu hơn vào nội tâm của chính chúng ta. Hãy cố gắng quan sát những ý niệm tâm linh bệnh hoạn của chúng ta và hãy khám nghiệm những nguồn năng lượng thân khẩu và ý của chúng ta xem có chỗ nào bị tắc nghẽn và bị hướng dẫn sai lầm không. Để làm công việc này có kết qủa, chúng ta cần có một chút kinh nghiệm về sự kiểm soát tâm. Chúng ta cần có tinh thần kỷ luật, luật tâm linh để giúp chúng ta thực hành một cách sống động linh hoạt hơn.


Nếu chúng ta không bắt đầu có hoặc bắt đầu phát triển ngay bây giờ một kỷ luật tâm linh thì chúng ta sẽ mất, sẽ hoang phí rất nhiều thời giờ trong cuộc đời cho một cái tâm vô kỷ luật. Không có chánh kiến từ khởi đầu nên lực vô minh cứ dẫn chúng ta tái sinh vào vòng luân hồi hết kiếp này đến kiếp khác mà không có quyền lựa chọn. Chúng ta đã mở cửa để tất cả những ảnh hưởng xấu tự do thấm nhập vào cả trong tâm hồn lẫn ngoài thân xác của chúng ta. Động từ “MỞ” ở đây mang một ý nghĩa thụ động. Tuy nhiên, với một sự áp dụng đúng đắn luật tâm linh, với một tinh thần kỷ luật cao độ, chúng ta có thể “MỞ” trong ý nghĩa tích cực.


Tinh thần kỷ luật không phải là sự siết chặt thần kinh như chúng ta nghĩ. Nó hoàn toàn không có nghĩa là chúng ta nhốt chúng ta vào một nhà tù mất hết sự tự nhiên và không còn sáng tạo. Nó chỉ có nghĩa là chúng ta nên tỉnh thức trong tất cả mọi hành động của chúng ta. Một cách từ từ và kiên nhẫn, chúng ta nên cởi bỏ, tháo gỡ tất cả những nút thắt về những ý niệm sai lầm của chúng ta, từ đó chúng ta giải phóng chúng ta khỏi tất cả những năng lượng thụ động mà nó đã cột chặt chúng ta từ muôn kiếp. Những lý thuyết phức tạp không cần thiết cho tiến trình tinh tiến này. Điều vô cùng quan trọng là chúng ta phải chấm dứt ngay tình trạng vô ý thức, tình trạng không thức tỉnh trên tất cả những thói quen thường ngày của chúng ta.


Một số người nghĩ rằng giữ kỷ luật sẽ làm chúng ta mất hết sự cởi mở và tính tự nhiên. Họ cho rằng chúng ta nên thoải mái và hãy để cho mọi thứ trôi chảy một cách tự do. Hành động như vậy chẳng có gì ngược lại với kỷ luật. Nhưng thực ra, giữ kỷ luật lại giúp chúng ta cởi mở một cách chân thật hơn. Nhiều khi chúng ta phải dẹp bỏ ý thức để được tự nhiên và nhiều lúc chúng ta lại phải liều lĩnh để hành động. Khi chúng ta sống trong kỷ luật trí tuệ của Đạïo pháp, chúng ta sẽ không còn bị ảnh hưởng của vọng tưởng và vô minh nữa. Nếu chúng ta cố gắng hành động một cách tự do không cần kỷ luật thì thay vì cởi mở với hoàn cảnh đang đối diện, chúng ta lại bị bưng bít bởi những sự lầm lẫn, bối rối của chính chúng ta. Vì thế, để được tự nhiên chúng ta phải có một tinh thần kỷ luật từ sự thức tỉnh và trí tuệ.    


Rất nhiều người phàn nàn rằng nếu liên tục chú ý vào những hành động của thân khẩu và ý thì khó qúa. Nhưng thực ra nó chỉ khó khi nào họ không chú ý đến luật nhân qủa. Tất cả những thói quen của chúng ta ở hiện tại sẽ trực tiếp ảnh hưởng đến những gì sẽ xẩy ra trong tương lai. Cũng giống như vậy, những gì chúng ta đang gặp phải bây giờ đều là kết qủa của tất cả những gì chúng ta đã làm trong qúa khứ. Nếu chúng ta nhận thức được điều này, chúng ta sẽ thận trọng với những hành động hiện tại của chúng ta một cách sâu xa hơn vì đây là trách nhiệm của chính chúng ta chứ không phải của bất cứ ai khác. Chúng ta sẽ nhận thức được hạnh phúc hay đau khổ là do quyết định của chính chúng ta. Nếu chúng ta là người tử tế, dễ thương và cởi mở trong tinh thần kỷ luật thì kết qủa là chúng ta sẽ có hạnh phúc thật . Nếu chúng ta là người độc ác, ích kỷ và hẹp hòi, chúng ta sẽ chỉ gặp những khó khăn và đau khổ. Do đó, kỷ luật chỉ khó khăn đối với người nào không biết  hoặc không sợ luật nhân qủa, nên họ cũng chẳng có một sự thúc đẩy nào đến với con đường tâm linh. Nếu chúng ta hiểu được sự liên hệ tự nhiên giữa những hành động và những ảnh hưởng của nó đối với chúng ta và những người khác thì chúng ta sẽ tự động phải ý thức và cẩn trọng trong mọi hành vi của chúng ta. Đây là lý do tại sao chúng ta phải thức tỉnh.


Mỗi khi chúng ta tỉnh thức trong từng hành động của chúng ta là chúng ta phát triển thêm trí tuệ. Từ đó chúng ta kiểm soát được luật nhân qủa. Nói cách khác, khi đó chúng ta có thể thanh tẩy được nghiệp của chúng ta. Vì thế, với sự tỉnh thức, chúng ta sẽ có những ý thức chân thực khởi phát chứ không phải do vô minh mà ra. Mật chú thường được dùng để khai mở những buổi pháp đàm, như Om muni muni maha muniye svaha, ý nghĩa sâu xa của ba lần lặp lại Muni là để “kiểm soát.” Muni đầu tiên để kiểm soát tam độc ở tâm - tham, sân, si - ba thứ này mang lại đau khổ cho cuộc đời. Muni thứ hai để thanh tẩy ô nhiễm và nghiệp, kể cả những hạnh nghiệp tốt mang lại niềm vui cho nhân loại, vì những thứ này cũng làm cho tâm không thanh tịnh (nghiệp có nghiệp xấu và nghiệp tốt, nghiệp nào cũng làm cho tâm không còn cân bằng thanh tịnh, Phật và chúng sinh tính thường rỗng lặng, rỗng lặng thì không có tốt không có xấu, tâm rỗng lặng chỉ nhìn sự vật như thị, như nó là, không có kiểu,” A, cái này tốt tôi nên giữ; ô cái kia xấu quá, bỏ đi.” --Dg)  Với sự kiểm soát như vậy, giúp chúng ta thoát khỏi luân hồi. Nhưng chúng ta không thể phát triển sức mạnh này hay niềm an lạc này trong một khoảng khắc mà nó sẽ đến từ từ, từ từ, rất chậm trong tiềm thức của chúng ta để rồi một ngày nào đó sẽ trở nên hoàn hảo. Maha muniye, đại thanh tẩy, sự kiểm soát toàn diện, thanh tẩy tất cả những dấu ấn của ảo vọng và nghiệp lực nằm rất sâu trong thể vi tế nhị nguyên của tâm ta. Trong sự phát triển cao độ này, trong sự giác ngộ này, chúng ta có khả năng tỉnh thức trọn vẹn (toàn giác) để mang lại ơn ích cho muôn loài chúng sinh. 


Nhưng trước nhất chúng ta phải bắt đầu, từ từ, tinh tấn đều đều, đều đều, không hấp tấp, không vội vàng. Đừng làm những bước nhảy vọt. Hãy áp dụng, hãy thực hành một cách vững chắc. Nếu chúng ta bắt đầu tiến hành từ từ như vậy, chúng ta sẽ có khả năng tiếp tục lâu dài một cách rất dễ dàng và rất thoải mái. Chúng ta sẽ thức tỉnh và kiểm chứng được tất cả những gì chúng ta đang thực hành trong từng giây phút. Nếu chúng ta nhảy vọt ngay từ lúc bắt đầu chúng ta sẽ bị gẫy chân; lúc đó nếu có lạt ma đến để chia sẻ với chúng ta về sự tiến bộ, về những chứng nghiệm Đạo pháp thì chúng ta đã bị què mất rồi, chẳng còn chia sẻ gì được. Trách nhiệm về sự thực tập lời dạy bảo này chẳng phải ở ông thầy mà tại chính chúng ta.


Khi chúng ta qui y Phật, Pháp và Tăng là chúng ta quyết liệt với nghiệp của chúng ta. Có nghĩa là chúng ta sẵn sàng canh giữ ba cửa ngõ thân khẩu ý của chúng ta và chúng ta tiếp tục tỉnh thức trong từng hành động của chúng ta. Phương pháp để hoàn thành công việc này là thiền định. Nếu chúng ta đã quyết định và đã có một phương pháp thích hợp thì sự học hỏi triết lý và giáo pháp mới có ích lợi. Lúc đó càng học hỏi về thiền định và biết thiền định trên những vấn đề gì, thì sự thực hành càng có kết qủa. Đời sống của chúng ta và sự thực hành tâm linh của chúng ta sẽ dẫn chúng ta đến những bước cao hơn, do chính sức mạnh và kết qủa của sự cố gắng này.


Để chứng nghiệm Đạo Pháp, cần hai điều kiện: học hỏi và thực hành. Không áp dụng hai điều kiện này thì sự nguy hiểm nằm ngay trong phương pháp đó. Nếu chúng ta đến với Đạo và học Đạo bằng cái “tôi” của chúng ta thì chúng ta sẽ chẳng thâu thập được gì mà lại còn chuốc thêm đau khổ bởi chính sự ô nhiễm tinh thần này. Thí dụ, chúng ta sẽ chỉ trở nên một người rất tinh thông về những danh từ và ý niệm mà thôi. Nếu chúng ta học và thực hành không trọn vẹn, sự kiện này sẽ là nguyên nhân gây đau khổ cho cái bản ngã kiêu mạn của chúng ta. Vì thế, mặc dầu Đức Phật có xuất hiện ngay trước mặt chúng ta mà giảng dạy Đạo Pháp cho chúng ta, chúng ta cũng nhún vai mà nói với Ngài rằng: “ Tôi biết rồi, ông không phải nói với “Tôi” những điều này nữa.”  


Thay đổi thái độ tâm linh này rất khó. Sức mạnh tinh thần của chúng ta có thể cấu tạo một hàng rào hoài nghi rất vững chắc để bảo vệ chặt chẽ những ý niệm sai lầm “dễ thương” của chúng ta. Cái thái độ sắt thép này chẳng những ngăn cản chúng ta tiếp xúc với người khác mà nó còn phá hủy hoàn toàn những gía trị căn bản của một con người. Bởi vì chúng ta cho rằng chúng ta biết tất cả mọi thứ nên chúng ta bị cầm giữ trong vô minh, như vậy chúng ta sẽ chẳng còn một cơ hội nào đánh thức tâm ta để trốn thoát khỏi khổ đau.


Do đó, chúng ta cần nhiều cố gắng để thực hành những gì chúng ta đã học hỏi được. Thực hành những gì chúng ta đã nghe, đã đọc và đã làm, đã nghĩ bằng tất cả năng lực của chúng ta. Đó là tất cả những gì tôi muốn nói. Hãy coi chừng nghiệp của chúng ta. Nghiệp là một danh từ Phật giáo, tiếng Phạn là Karma, đây là một danh từ Aán độ, ý nghĩa rất phức tạp. Hàng ngày chúng ta ăn, uống, ngủ, đi và nói chuyện với người khác. Tất cả những hành động ấy tạo ra nghiệp, là nghiệp. Nói một cách đơn giản, tất cả những năng lượng phát ra từ thân khẩu và ý đều là nghiệp. Tất cả nghiệp lực đều có phản ứng, rồi nó lại tạo ra những phản ứng khác nữa, khác nữa, khác nữa.... Chúng ta không cần đi sâu xa, phức tạp hơn nữa. Như vậy cũng đã qúa đủ để xác định khi vui sướng là nghiệp qủa của những động lực lành mạnh đã được tạo ra từ trước, khổ đau là kết qủa của những hành động bất thiện. Để nói về nghiệp, có khi phải cần cả một ngày, một tuần, một tháng hoặc cả năm mới luận bàn hết được. Tuy nhiên, lời dậy bảo đơn giản bao giờ cũng thấm hơn là những bài thuyết trình cầu kỳ bóng bảy, toàn là những lời trống rỗng, trò chơi của chữ nghĩa. 


Từ khi sinh ra đến bây giờ, những gì chúng ta đã nói, đã nghĩ, đã làm đều là những cơ hội tạo ra nghiệp cho tương lai. Không có một giây phút nào mà chúng ta không tạo ra nghiệp, chúng ta tạo nghiệp trong từng giây từng phút. Có thể chúng ta không tin nghiệp và luật nhân qủa. Nhưng dù tin hay không tin, nó vẫn ở đó, như chiếc kim đồng hồ không ngừng di chuyển. Cho tới khi nào chúng ta hiểu được tiến trình tạo nghiệp này, chúng ta mới tỉnh thức về tất cả những hành động xấu mà chúng ta đã tạo ra do thói quen, lúc đó chúng ta mới dễ dàng nhận ra bao nhiêu là rắc rối mà chính chúng ta đã mang lại cho chúng ta.


Mỗi một phút chúng ta tạo ra hàng trăm thứ nghiệp, có nghiệp chúng ta đã cố tình tạo ra. Trong sự yên tịnh của thiền định, chúng ta có thể nghe được tâm ta, đây là nguồn gốc và nơi chốn của tất cả mọi hoạt động. Ở đây chúng ta có thể học hỏi, kinh nghiệm và nhận diện được mọi hành động của chúng ta từ rất xa, sâu thẳm mà chúng ta không hề biết trước kia. Công việc tự tỉnh thức này dẫn đến việc tự kiểm soát, đây là khả năng làm chủ nghiệp lực của chúng ta thay vì để nó điều khiển chúng ta.


Phật giáo Đại thừa dậy rất rõ ràng minh bạch về con đường chuyển hoá tất cả những sinh hoạt hàng ngày thành những phương tiện thiện xảo đưa đến giác ngộ. Ngay cả những năng lượng tiêu cực cũng có thể chuyển thành những kết qủa tích cực. Điều này có thể thực hiện được bởi vì tất cả những năng lượng này đều là sự diễn dịch của những thái độ tinh thần, những thái độ này có thể dẫn đến mục đích đạo đức hoặc không đạo đức. Tất cả đều đòi hỏi một sự tỉnh thức cao độ.


Vì hiểu và sinh hoạt với những nguồn năng lượng của chúng ta mỗi ngày nên chúng ta có khả năng tạo được những bước rất dài trên con đường tâm linh. Không cần chúng ta phải cắt bỏ những hoạt động hàng ngày của con người để đi đến một nơi nào đó tu dưỡng tâm linh. Chúng ta có thể học hỏi ở mọi nơi mọi lúc. Phật giáo là con đường trung đạo, nó tránh tất cả những gì gọi là cực đoan. Vì thế, nếu chúng ta thực sự chân thành muốn thực hành Đạo pháp trong đời sống hàng ngày của chúng ta, chúng ta thực sự cần một đời sống quân bình. Đừng thẩm định qúa thấp hoặc quá cao công việc gì mà chúng ta muốn hoàn thành, hãy cố gắng làm việc ở trong nội tâm càng nhiều càng tốt.


Nếu thực sự chân thành thực hành Đạo pháp trong đời sống hàng ngày, chúng ta sẽ được đổ đầy lòng nhiệt tâm. Nếu chúng ta là những người có tuổi thì tâm hồn chúng ta sẽ trở nên trẻ trung và tươi mát như một thiếu niên 15 tuổi. Còn không, thân xác và tâm hồn chúng ta sẽ bị gìa đi và suy nhược chung với nhau. Chúng ta sẽ chẳng có trí tuệ, chúng ta sẽ sống quãng đời còn lại rồi chết đi trong sự sợ hãi và ngu muội.


Vậy, chúng ta hãy cố gắng sống trong sự bình an của tâm hồn càng nhiều càng tốt. Hãy cố gắng sống vui vẻ. Có qúa nhiều cơ hội sống tốt đẹp ở xã hội này, vậy hãy dùng nó cho khôn ngoan. Hãy nhớ rằng mục đích chính của một xã hội đầy máy móc là để tiết kiệm thời gian. Vậy hãy tổ chức đời sống sao cho có thật nhiều giờ dành cho thiền định. Rồi, khi nào bắt đầu biết để ý đến nghiệp lực được tạo như thế nào qua thân khẩu và ý thì lúc đó là lúc chúng ta mới thực sự thực hành Phật Pháp. Ngoài ra, mỗi khi chúng ta cố gắng ngồi thiền chúng ta chỉ ngồi đó mà chẳng thực hiện được một kết qủa hữu dụng nào.


Ngồi, tự nó chẳng phải là thực hành.Tinh tấn và chuyển hoá mới thực sự là thực hành. Khi tinh tấn, chúng ta cảm nhận được. Không cần phải hô hoán lên, “Ô Lạt ma, con đang học Phật Pháp, con có tiến bộ không?” Sự cảm nhận chỉ có thể được chứng nghiệm bởi chính anh, không phải Lạt ma hay bất cứ người nào khác. Chúng ta mỗi người đều có khả năng nhận ra sự tinh tấn này.


Tôi nghĩ rằng tôi đã nói quá nhiều, nhưng tôi cũng nghĩ rằng tôi đã nhấn mạnh một điều gì đó. Bây giờ chẳng còn gì để nói với quý vị nữa. Ước mong rằng sự gặp gỡ hôm nay sẽ mang lại một nghiệp qủa tốt và tạo nhiều ơn ích. Nếu được như vậy, xin đừng phí phạm. Hãy hồi hướng tất cả những thành qủa này cho muôn loài chúng sinh. Cám ơn qúy vị.


Tôi rất sung sướng vì ở Hoa kỳ có rất nhiều người mong muốn đi tìm sự bình an trường cửu để đạt giác ngộ. Thật là may mắn cho qúy vị được chia sẻ nghiệp qủa với Trungpa Rinpoche. Mong rằng sự cố gắng của ngài và sự thực hành liên tục của qúy vị sẽ mang lại hạnh phúc và sự an lành cho tất cả mọi người.

NĂNG LỰC TRÍ TUỆ Những Lời Dạy Căn Bản Của Phật Giáo Nguyên tác: WISDOM ENERGY, BASIC BUDDHIST TEACHINGS Lama Yeshe và Lama Zopa Rinpoche - Vô Huệ Nguyên dịch Wisdom Publications xuất bản

3.   TÌM HIỂU NGUYÊN NHÂN CỦA BẤT HẠNH
Sự thấu hiểu bản tính thật hay chân tính của những hiện tượng ở nội tâm có sức mạnh cắt đứt tất cả những tình trạng mê mờ ảo vọng của tâm. Giống như một lưỡi kiếm cắt đứt những vọng tưởng. Lưỡi kim cương sắc bén này có khả năng phá hủy trọn vẹn những nguồn năng lượng tiêu cực. Với sự hiểu biết sâu xa của trí tuệ, tâm chúng ta sẽ tự nhiên đi vào trạng thái trong sáng thanh tịnh, khi đó cảnh bình an chân thật của nội tâm sẽ được thành lập. Chính vì lý do này mà Phật Pháp không chấp nhận một tình trạng hiểu biết mù quáng. Điều vô cùng quan trọng là chính cá nhân chúng ta phải tự thẩm định và tự chứng nghiệm sự thật về những lời dậy bảo ở trong chính tâm hồn của chúng ta, chứ không phải nhắm mắt tin vào giáo điều. Sự thành đạt trí tuệ như vậy mới mang lại kết qủa thực sự cho việc huấn luyện tâm để đạt tới mục tiêu. Chúng ta sẽ chẳng có tinh tấn trên con đường học đạo nếu trí tuệ của chúng ta không làm việc một cách sắc bén. Điều này đi ngược lại với sự nhận xét của một số người về tôn giáo -- theo họ, tôn giáo có những tín điều không thể thay đổi hoặc không được chống lại vì nó ở bên ngoài tất cả những lý lẽ, thắc mắc, bàn luận và nghiên cứu khoa học. Đáng tiếc thay, những tư tưởng suy đồi trong hệ thống tín lý của tôn giáo lại làm vững mạnh thêm cho những quan niệm độc đoán một chiều này. Ở đây tôi không đề cập tới những hình thức thoái hóa của tôn giáo vì thực ra nó chỉ là những mê tín dị đoan. Đúng ra, tôi chỉ muốn nhấn mạnh đến khả năng kỷ luật của nội tâm, nó có thể tạo được sự bình an thật cho chính tâm mình và người khác.

Thật là sai lầm khi nghĩ rằng người có đạo nên tránh những điều mới lạ và những cơ hội có thể làm lay chuyển đức tin của họ. Một tôn giáo đúng nghĩa thì tràn đầy trí sáng suốt, tại sao tín đồ lại phải sợ bóng tối? Aùnh sáng thực sẽ không bao giờ bị ảnh hưởng bởi bóng tối. Giống như thế, tâm trong sáng của trí tuệ không hề bị quấy nhiễu bởi một cái tâm mù mờ và lầm lẫn. Cũng như sự nghiên cứu theo đúng tinh thần khoa học dù dưới bất cứ hình thức nào cũng không đi ngược lại sự chân thật của tôn giáo. Nói cho cùng, bất cứ sự nghiên cứu nào của khoa học cũng không chối bỏ được ánh sáng của mặt trăng và mặt trời, thế thì tại sao họ lại chối bỏ ánh sáng của nội tâm?

Những kẻ yếu đuối - những ai thiếu con mắt phân biệt của trí tuệ - chấp nhận giáo lý một cách thụ động. Họ không có nền tảng triết học và hoàn toàn không có gì bảo vệ cho những điều họ tin, vì thế khi có ai thắc mắc lòng tin của họ là họ sẽ khó chịu ngay. Những người như vậy thường có một đời sống hay đắn đo, hoang mang, sợ hãi bất cứ người nào hay bất cứ gì có thể ảnh hưởng đến căn bản tinh thần mập mờ của họ. Tuy nhiên, thái độ này không phải tại tôn giáo nhưng tại sự hiểu biết qúa hẹp hòi của họ. Đạo pháp luôn luôn hướng dẫn chúng ta đi con đường ngược lại với thái độ này. Đạo pháp có khả năng hướng dẫn một người biết phối hợp tất cả những kinh nghiệm trong đời sống vào một sựhợp nhất toàn thể (một là tất cả, tất cả là một ), từ đó sẽ không còn sợ hãi và bất an.

Dĩ nhiên, loại triết lý và luận lý của đức tin tôn giáo không hoàn toàn giống như những loại được dạy ở trường học. Thí dụ, loại lý luận toán học ở trường học dạy chúng ta giải quyết những vấn đề có tính cách bên ngoài sao cho hợp lý. Còn nguồn gốc sâu thẳm ở bên trong thì lại không được chú ý đến hoặc nếu có thì nó cũng chỉ đem lại những kết qủa giới hạn mà thôi. Ngược lại, Đạo Pháp có một giá trị cao hơn và có tính cách bao trùm. Nó trực diện thẳng với những vấn đề ẩn sâu trong nội tâm và thường được dùng để giải quyết những vấn đề quan trọng trong cuộc sống như : Làm thế nào để tìm kiếm hạnh phúc, tránh khổ đau cho chính mình và cho những người khác. Khi chúng ta giải quyết những rắc rối trong đời sống qua Đạo pháp, chúng ta sẽ không thuần túy chỉ đề cập đến một vấn đề hoặc ở một khía cạnh mà chúng ta phải khám phá ra tất cả những liên hệ giằng co ở sâu thẳm bên trong của toàn thể vấn đề. Đây là điều kiện cần phải có cho những người nào muốn liên tục khám phá và tìm hiểu những lý do “tại sao” và “thế nào” mà họ đã thiếu sót. Kết quả là chúng ta sẽ hài lòng hơn rất nhiều với lối giải quyết này vì nó ảnh hưởng đến toàn thể những gía trị của đời sống con người.

Làm thế nào để áp dụng kiểu lý luận nội tâm theo Đạo pháp? Có thể qúy vị không được hài lòng, và có thể sự chán ghét đang nổi lên trong tâm của qúy vị. Thay vì quan sát hiện tượng này một cách thụ động hoặc bỏ qua một bên, qúy vị hãy tự hỏi và tìm hiểu xem cái gì đang xẩy ra trong tâm của chúng ta, tại đây, ngay bây giờ. Hãy cố gắng khám phá xem tại sao anh không hạnh phúc, anh không hài lòng để có tình trạng chán ghét xẩy ra. Nói cách khác, hãy tự hỏi chính mình nếu phải làm một điều gì, liệu tôi có tinh tiến hay không. Phân tích như vậy không phải là một hành động bấn loạn thần kinh. Nhưng, đây chính là đường lối giải quyết vấn đề của chúng ta.

Hỏi như vậy là tạo ra một tiến trình cho nguyên nhân để dần dần dẫn đến một giải pháp. Nó giống như tiến trình thí nghiệm đi thí nghiệm lại của một nhà khoa học để dần dần chứng minh cho một vấn đề mà ông ta đang nghiên cứu. Trong lúc tạo những kinh nghiệm nội tâm, chúng ta nên hỏi chúng ta thật nhiều câu hỏi cho cùng một vấn đề. Bằng cách này, chúng ta sẽ phát triển và sẽ trưởng thành trong tâm linh, kết qủa là những sự khó chịu và những bất mãn của chúng ta đang từ từ bị loại bỏ.  Thí dụ, chúng ta sẽ phân tích được sự chán ghét đang nổi dậy trong chúng ta và sẽ khám phá ra chẳng những nguyên nhân của nó mà cả kết qủa của nó để chúng ta biết cách mà hoá giải nó.

Chúng ta thường bị đau khổ vì những tham vọng qúa lớn hoặc bám víu chặt vào cái gì đó. Đây là kết qủa của những kinh nghiệm cảm thọ “hài lòng” không được kiểm soát, không tỉnh thức trước kia mà bây giờ chúng đang có liên hệ tới đối tượng này bây giờ. Mỗi khi cảm thọ này nổi lên, chúng ta nên quan sát nó và nhìn cho thật rõ cái gì đang xẩy ra, đang dấy lên trong tâm của chúng ta. Đây là một điều vô cùng quan trọng để thẩm định lý do tại sao cảm thọ hài lòng lại sản xuất ra, lại là nguyên nhân cho những tình trạng khó chịu của lòng ước muốn và tham lam. Cũng giống như vậy, mỗi khi sầu khổ, mỗi khi có chuyện bực mình, hãy cố gắng khám phá xem tại sao cảm thọ này lại tự động dẫn đến sự thù hận, oán hờn và ganh ghét. Đôi khi chúng ta có những cảm thọ không vui cũng không buồn trên một vài sự kiện nào đó. Những loại cảm thọ này thường dẫn đến tình trạng mờ mờ ảo ảo, một tình trạng vô minh ngu ngơ làm chúng ta không muốn để ý đến đối tượng một chút nào. Cả ba loại phản ứng này về những kinh nghiệm của chúng ta, chúng không luôn luôn xuất hiện một cách rõ ràng, thiết thực hoặc sống động, nhưng nó thường xuất hiện một cách rất tế nhị, ở thể vi tế. Là một con người, chúng ta bị chúng chi phối thường xuyên không ngừng, ngay cả lúc chúng ta không để ý đến chúng. Vì thế, nếu chúng ta muốn huấn luyện tâm, chúng ta cần phải mài sắc trí tuệ của chúng ta và luôn luôn tỉnh thức: “cái gì đang thực sự xẩy ra ở bên trong tâm của tôi?”

Mỗi khi chúng ta nhìn thẳng vào bản tính của những cảm thọ và quan sát xem chúng hoạt động như thế nào, chúng ta sẽ khám phá ra rất nhiều điều thú vị. Nếu tôi tạo ra một vài tâm trạng ở đây thì qúy vị sẽ thấy tất cả những rắc rối tâm lý đều do những cảm thọ mà ra. Khi một cảm giác vui sướng xẩy ra thì cái tâm không thức tỉnh của chúng ta liền bị quay cuồng, bị đưa đẩy bởi chính những cảm giác vui sướng này. Khi một cảm giác khó chịu xẩy ra, tâm chúng ta liền bị mất thăng bằng, liền bị mất kiểm soát và những rắc rối liền xuất hiện tiếp theo đó. Ngay cả những cảm thọ trung tính, không vui không buồn, tơ lơ mơ cũng dẫn chúng ta đến khổ đau hoặc trở ngại. Vì chúng ta muốn bỏ qua những gì đang phát khởi ra ở giữa những cảm thọ này  nên chúng ta đã bỏ qua thực tính của chúng. Kết qủa của những gì chúng ta đã bỏ qua, đã nhắm mắt lại trước các hiện tượng xẩy ra lại là nền tảng của vô minh, và nó hoàn toàn đi ngược lại với việc phát triển trí tuệ giải thoát.

Như vậy tham lam, ganh ghét và những rắc rối tâm lý khác đúng là do cảm thọ gây ra, nhưng thực sự ra đây mới chỉ là một nửa mà thôi. Những tình trạng tâm lý này lại thay phiên nhau trở lại để quấy rầy những cảm thọ khác nữa. Đây chính là cái vòng luẩn quẩn xấu xa. Cái này là nguyên nhân của cái kia, chúng quay vòng vòng trong tâm thức của chúng ta không bao giờ ngừng, chúng quấy phá cuộc đời chúng ta và những nguồn năng lượng của chúng ta.

Thật là ích lợi biết bao nếu chúng ta tìm hiểu gần hơn, sâu xa hơn về thực tính của những cảm thọ của chúng ta. Hãy quan sát xem cái gì đang xẩy ra trong ý thức, trong tư tưởng, trong tâm của chúng ta, qúy vị gọi nó bằng bất cứ tên gì cũng được. Đây là một việc làm rất có gía trị, có ai phản đối không? Chúng ta nên tự hỏi: những phương pháp mà giáo lý tôn giáo dậy có hiệu quả cho việc tìm kiếm sự bình an thật ở tâm hồn không? Khoa học và triết học có đi ngược lại những phương pháp khám nghiệm này không? Không, hoàn toàn không. Sự thật là, nền tảng của triết học, như tôi đã trình bày trước kia, chỉ làm mạnh thêm cho những ý thức phát khởi từ nội tâm. Không có niềm tin vững chắc đó, chúng ta sẽ không có một câu trả lời xác thực mỗi khi có người nào hỏi chúng ta về nó. Một giải quyết tinh thần không được mập mờ, không được lúng túng như vậy.

Chúng ta hãy tìm hiểu gần hơn, sâu xa hơn về bản tính của những cảm thọ của chúng ta. Cho dù chúng vui, buồn hay không vui không buồn, hầu như tất cả đều là kết quả của những sự phân biệt sai lầm. Sở dĩ có những sự phân biệt sai lầm vì chúng đặt căn bản trên những vọng tưởng của tâm, mà những vọng tưởng này lại luôn luôn che mắt chúng ta, không cho chúng ta nhìn đúng sự thật. Đây là sự thật của bất cứ một hiện tượng nào, dù ở bên trong hay ở bên ngoài, dù có sinh khí hay không có sinh khí, dù hoạt động hay bất động. Cảm thọ không chỉ phát khởi khi một người phản ứng với một người khác. Chúng xuất hiện khi có sự liên hệ với bất cứ cái gì (duyên khởi). Trong hầu hết các nghịch cảnh đều có một đối tượng mà những cảm thọ bị quấy rầy lại chính là chủ nhân. Điều này cho chúng ta thấy rằng chúng khác biệt hay tách biệt với cái khác, ví dụ một người nói, “Tôi ghét thằng đó,” nhưng thực ra, một cách nào đó, cảm thọ của anh ta đã tạo ra đối tượng này. Vì thế tôi muốn nói rằng đối tượng của những cảm thọ của chúng ta không thể gây ảnh hưởng đến thực tính của bất cứ một hiện tượng bên ngoài nào. Đó thuần túy chỉ là những lớp sơn vọng tưởng của một cái tâm phân biệt một cách mù quáng mà ra.

Do đó, thực là dễ dàng, thực là đơn giản để đối diện, để đối đầu với những nguồn mâu thuẫn tinh thần có thể xẩy ra. Chỉ cần nhớ bất cứ cái gì đến quấy rầy những cảm thọ nội tâm của chúng ta đều là những ý niệm sai lầm của tâm vọng tưởng. Quan sát những đối tượng này sẽ giúp chúng ta có một cái nhìn sáng tỏ hơn về những sự việc đang xẩy ra mà không cần phải dùng đến những phương pháp phức tạp nào khác. Chỉ cần chiêm nghiệm đời sống của chính chúng ta. Bất cứ cái gì chúng ta đang nhận thức, đang sinh hoạt, đang cảm nhận, hãy chiêm nghiệm ngay xem có phải chúng ta đang lừa dối chính mình không. Hoặc nói một cách chính xác hơn, hãy quan sát xem tâm của chúng ta có đang gán ghép, có đang phóng đại một nhận xét không có thực cho đối tượng mà chúng ta đang nhận thức hay không, có thể nó đang lừa dối chúng ta vì một lý do mâu thuẫn và nhiễu loạn.(Nhiều khi chúng ta nói sai sự thật cho một người hay cho một sự kiện mà chúng ta đã gặp vì một lý do nào đó.  --Dg)

Chúng ta thường nghĩ rằng những rắc rối của chúng ta là do người khác đem lại hoặc họ chiếm mất hạnh phúc của chúng ta. Tuy nhiên, khi nhìn sâu xa hơn thì chẳng kiếm thấy một kẻ thù nào cả. Từ vô thuỷ, qua biết bao nhiêu kiếp và từ khi sinh ra cho đến bây giờ, chúng ta đã tự đánh lừa chính mình qúa nhiều rồi. Có thể chúng ta nghĩ, “ Tôi không bao giờ hành động như vậy, tôi là một người tốt.” Nhưng chúng ta sẽ chẳng bao giờ hiểu được sự thật nếu chúng ta cứ mãi nhìn sự kiện theo chiều hướng này. Hãy khám xét những thái độ tinh thần của chúng ta mỗi khi đối diện với sự kiện và hãy tìm hiểu xem chúng ta đã gán ghép, đã phóng đại sai lầm cho những người mà chúng ta đã gặp hay cho những hiện tượng xẩy ra trong cuộc sống như thế nào.

Hầu như lúc nào chúng ta cũng sơn phết cho mọi vấn đề: chúng ta tự diễn dịch mọi hiện tượng theo lối nhìn hạn hẹp của chính chúng ta. Chúng ta có thể khám phá ra xu hướng này một cách dễ dàng, không cần phải dùng tới những phương pháp phân tích đặc biệt. Chỉ cần dùng luật tương đối, sự xuất hiện rất bình thường của sự vật, hãy tự hỏi chính mình: “ Tôi là ai? Tôi là cái gì?” Một vài hình ảnh về cái tôi mà chúng ta nghĩ chúng ta sẽ là sẽ xuất hiện ngay, nó rất tương đối với sự thật. Hãy tự nhìn cho thật rõ chính mình. “Đây chính là tôi ư? Đây thực sự là tôi sao? Tôi luôn luôn xuất hiện như thế này với tất cả mọi người ư?” Khi thật sự quan sát mình một cách vô cùng thành thật, chúng ta sẽ nhận ra lớp sơn kia là giả dối. Chúng ta sẽ nhìn thấy chúng biến mất trong sự gỉa dối. Chúng ta sẽ khám phá ra chính chúng ta đã bóp méo tất cả những nhận thức của chúng ta về những hiện tượng ở bên ngoài. Chúng ta sẽ nhìn thấy lớp sơn của chúng ta, một thế giới cảm quan toàn là những vọng tưởng sai lầm và chúng ta sẽ nhìn ra được những cảm thọ được khởi lên bởi những vọng tưởng hư ảo đưa đẩy chúng ta tới lui giữa những hứng khởi và tuyệt vọng. Cái vòng bất toàn này, căn bản là hư ảo, được gọi là luân hồi, sự nghiên cứu và quan sát của chúng ta chỉ cho chúng ta biết đây chỉ là những ảo cấu của tâm chúng ta.

Nếu chúng ta huấn luyện chúng ta nhìn sự vật theo chiều hướng này, chúng ta sẽ không còn bao giờ nghĩ rằng những rắc rối của chúng ta là do lỗi lầm của xã hội, của quê hương hay của cha mẹ chúng ta nữa. Chúng ta sẽ công nhận những vấn đề này là của tâm chúng ta, xẩy ra ở trong tâm của chúng ta. Để sửa soạn cho phương pháp phân tích này, trước nhất chúng ta cần phải biết làm thế nào suy nghĩ một cách rõ ràng trong sáng. Phương pháp này giúp chúng ta biết sắp xếp những hiện tượng khác nhau mà chúng ta muốn nghiên cứu học hỏi. Lại nữa, sự thật không hiển lộ ngay lập tức, mà tùy theo sự tin tưởng của chính chúng ta. Có nghĩa là chính chúng ta phải đi trên tiến trình học hỏi này. Bởi vì chính sức mạnh của trí tuệ không lầm lẫn của chúng ta là lực thúc đẩy chúng ta trong sự học hỏi và tìm hiểu này, nó sẽ cho chúng ta rất nhiều năng lực để chúng ta kiểm soát cuộc đời của chúng ta.

Không có gì nguy hiểm khi chúng ta chấp nhận khảo nghiệm đời sống hàng ngày của chúng ta bằng chính những kinh nghiệm của chúng ta. Không có gì lừa dối và hướng dẫn sai lầm trong triết lý thực hành này. Chúng ta sẽ nhìn ra được tất cả những rắc rối tinh thần của chúng ta, chúng đều được tạo ra bởi lớp sơn vọng tưởng của thế giới cảm quan. Vì bị u mê bởi ảo vọng, chúng ta đã phán đóan sai lầm cái này tốt cái kia xấu. Nhưng thế giới ảo tưởng không phải là thế giới của con người. Nó là thế giới của ai? Chúng ta hãy tự khám nghiệm lấy! Cái nhìn của tôi về “California” không phải là cái nhìn của người khác. Đây là lý do tại sao Phật giáo giám mạnh dạn mà nói rằng, tất cả những hiện tượng đều do tâm của chính chúng ta tạo ra. Lời nói này là một sự thật, ý nghĩa cốt tủy của nó không thể phát sinh bởi những kẻ đạo đức giả hay bởi một cái tâm bị ô nhiễm. Chúng ta nên khám nghiệm và tự kinh nghiệm lấy bản tính huyễn ảo trong những vọng tưởng của chúng ta. Chỉ bằng cách này chúng ta mới có thể khám phá ra sự thật đang nằm sâu ở bên trong.

Truy tìm, khám nghiệm chính là thực hành. Thiền định không có nghĩa là ngồi yên trong một góc nào đó mà không làm gì cả. Hoàn toàn không phải như vậy. Không cần biết anh đang làm gì, cũng chẳng cần biết anh thuộc môn phái nào, anh có thể khám nghiệm bất cứ lúc nào, phải không? Đây là một việc có thể làm được ở bất cứ lúc nào, ở bất cứ đâu.Thật là vô cùng sai lầm khi nghĩ rằng thiền định của Phật giáo chỉ dành cho những kẻ lười biếng, không muốn làm gì cả. “ Tất cả những thiền gỉa chỉ là những người ngồi không, ăn, ngủ và đi cầu !” Những người không hiểu biết có thể nghĩ như vậy, một số thiền gỉa cũng có thể nghĩ như vậy. Nhưng những vị chân thiền giả là những người hoàn toàn chịu trách nhiệm về tất cả con đường tinh tiến và phát triển của họ. Họ không sợ bất cứ gì nên cũng chẳng cần phải dấu diếm điều gì trong một góc nhà nào đó. Đức Phật không dậy thiền như vậy. Sự hiểu biết nông cạn và bất hảo về Đạo pháp hay về tôn giáo có thể là nguyên nhân dẫn đến sự bất toàn và xa rời sự thật. Sự chân thành thiền định là một sự thực hành nghiêm chỉnh, một sự đối chất ngay thẳng để phá tan lớp mây mờ ảo vọng mà tiến đến trái tim của chân tính.

Hãy nhớ rằng cảm thọ bao gồm luôn cả những cảm xúc. Chúng có thể là những cảm thọ tinh thần, có thể là những xúc động hay ngay cả những niềm tin nhảm nhí. Tất cả những hiện tượng đang diễn ra đều là đối tượng của cảm thọ. Tuy nhiên hầu như trong mọi lúc chúng ta chẳng biết chúng ta đã cảm nhận chúng như thế nào. Đó là lý do tại sao chúng ta hãy luôn luôn quay vào trong mà kiểm soát chính mình. Bằng cách này chúng ta sẽ từ từ phát triển được trí phân biệt tối thượng. Với trí tuệ phân biệt này, chúng ta có khả năng kiểm soát được những cảm thọ không trong sáng và những cảm thọ rối loạn để giải thoát chúng ta khỏi vòng cương tỏa của chúng.

Người ta thường nói: “Đừng phân biệt ! Phân biệt là nguồn gốc mọi rắc rối .” Tuy nhiên, chúng ta đều biết thế giới này luôn có hai ý nghĩa khác nhau. Sự phân biệt sai lầm phát khởi khi lớp sơn huyễn ảo của tâm vọng tưởng nhầm lẫn về chân tính, nó làm chúng ta nghĩ, “Tôi thích cái này,” “Tôi ghét cái kia,” “O^ng ta đúng,” “Cô ta sai,” ...vân vân... Những phản ứng này tuyệt nhiên không có gì liên hệ đến chân tính nên loại phân biệt này hoàn toàn là giả dối, lường gạt.

Nhưng loại phân biệt đúng đắn lại là bản tính của trí tuệ. Nó biết cái gì là sự thật và luôn luôn giúp tâm chúng ta hoạt động một cách trong sáng. Nếu không như vậy, sự vật sẽ luôn xuất hiện một cách lung tung lẫn lộn. Ngay ở trong bình diện thế tục, trí phân biệt này cũng cần thiết, nếu không có nó làm sao chúng ta có thể chuẩn bị được bữa cơm trưa nay. Nếu chúng ta nghĩ, “Tôi đã thoát ra khỏi mọi sự phân biệt, tôi có thể trộn tất cả mọi thứ vào cái bát này,” như vậy bữa ăn của chúng ta sẽ tệ lắm phải không qúy vị?

Vậy, để nhìn sâu vào những thái độ tinh thần của chúng ta, để khám phá xem cái gì mạnh mẽ, cái gì cần được kiểm soát, dĩ nhiên chúng ta cần sự phân biệt. Nếu không, ai sẽ kiểm soát chúng ta? Ví dụ như khi chúng ta đi sâu vào thiền định, một phần tâm của chúng ta nên ở bên ngoài để chú ý theo dõi những giá trị của thiền định. Nó phải quan sát xem các sự kiện có tiến triển đúng hay không? “ Các nguồn năng lượng có đi đúng hay không?” “ Tôi có bỏ rơi đối tượng của thiền định không?” Nếu chúng ta không làm như vậy, cái tâm không được kiểm soát của chúng ta sẽ đi lang thang lung tung trong hàng ngàn hướng khác nhau. Rất nhiều người nghĩ rằng thiền định sâu có nghĩa là tâm không còn biết phân biệt gì nữa cả. Không bao giờ chúng ta được rời xa sự chú tâm. Không cần biết chúng ta đang làm gì - kiểm chứng một điểm nào đó trong Đạo Pháp, cố gắng nhất tâm thiền quán, thực hành sâu xa hay đắm chìm trong đại trí -- thì sự thiền định và sự chú tâm trong vấn đề đó cũng phải đồng điệu hoà nhập với nhau. Đây là điểm vô cùng quan trọng và thực sự có gía trị để giữ cho sự tỉnh thức luôn luôn có ở tâm của chúng ta.

Hãy thử nghĩ xem, chúng ta đã tiêu hết bao nhiêu năng lượng cho các siêu thị. Đứng trước bức tranh quảng cáo chiếc răng trắng long lanh của hãng bán thuốc đánh răng, hình như chúng ta đã phải dùng trí lực để so sánh chọn lựa mua cái nào cho đúng, “Tôi có nên mua cái này không? Có lẽ loại kia mới tốt. Cái nào rẻ hơn? Hộp kia trông hấp dẫn hơn...vân vân....” Hao tốn qúa nhiều năng lượng! Khi đứng trước những đối tượng hào nhoáng không thể quyết định, hãy tự hỏi cái nào thực sự đem đến sự thoải mái cho chúng ta:  những món hàng trong siêu thị hay sự hiểu biết của tâm? Siêu thị chỉ đem lại những thoải mái giới hạn và nhất thời. Nhưng sự hiểu biết sâu xa của trí tuệ sẽ đem lại sự thoải mái  lâu dài và sự an lạc vĩnh cửu. Đây là một sự thật. Nói xa hơn nữa, không ai có thể phá hoặc quấy rầy sự hạnh phúc mà chúng ta có được từ trí tuệ, bởi vì nó ở trong này, trong tâm của chúng ta. Chỉ cần chúng ta biết huấn luyện, biết tu tâm thì sẽ không bao giờ xa rời niềm hạnh phúc này.

Chúng ta có rất nhiều cơ hội, có rất nhiều may mắn để thực hiện sự thật này trong đời sống hàng ngày của chúng ta. Nhưng trước khi chúng ta chấp nhận sự thực hành Đạo Pháp, thực hành một giáo lý tôn giáo hoặc bất cứ một hình thức văn hoá nào, chúng ta nên suy nghĩ và quyết định một cách vô cùng sáng suốt, nó có thực sự đem lại hạnh phúc cho cuộc đời của chúng ta không. Chúng ta có thực sự tin rằng chúng ta có thể tìm được hạnh phúc trong những mê hoặc của ước muốn trần gian không, hay chúng ta lại phải tìm kiếm sâu xa hơn nữa cho sự viên mãn trường cửu? Nếu chúng ta không phân biệt được và không thể thông suốt được vấn đề này thì sự chọn lựa con đường đạo --một tôn giáo hay bất cứ gì--chỉ là một việc làm mù quáng mà thôi. Con đường phát triển tâm linh chỉ tinh tiến rất hạn hẹp nếu không có một căn bản cốt tủy nằm sâu trong cá tính của chính chúng ta. Sẽ chẳng có một ơn ích nào phát khởi trong tâm chúng ta vì nó vẫn còn bị che phủ bởi một lớp mây mù và những cảm thọ đầy mâu thuẫn. Vậy, chúng ta cần phải nhìn vào bên trong, trong sâu thẳm tâm thức của chúng ta xem cái gì mới thực sự tốt nhất cho chúng ta, hãy cố gắng khám phá ra bản tính chân thật của tâm chúng ta.

Cám ơn qúy vị nhiều lắm.  
Một Chữ “Xả”
Thích Thanh Từ

Vấn đề tôi nói hôm nay là một chữ XẢ. Quí vị biết ngược với xả là gì không? Là cố chấp, nắm chặt. Cố là chặt, chấp là nắm; cố chấp là nắm chặt. Khác với nắm chặt là buông bỏ.
Mới nghe đơn giản quá nhưng xét kỹ, quí Phật tử sẽ thấy tất cả chúng ta sống trên thế gian này, ai cũng than buồn than khổ, gốc tại cố chấp thôi, chớ không có gì khác. Bây giờ muốn hết buồn, hết khổ thì chúng ta phải làm sao? Phải xả, phải buông bỏ. Buông bỏ thì hết khổ.. Như vậy quá giản đơn, quá tầm thường. Chỉ cần quí Phật tử thực hiện được điều chúng tôi nhắc thì sẽ bớt khổ ngay trong cuộc sống hiện tại này.
Lâu nay chúng ta cố chấp những gì mà bây giờ phải buông xả?
Người thế gian luôn luôn nghĩ ai làm trái ý mình thì mình buồn, mình giận. Buồn giận nên bỏ liền hay nên giữ mãi? Có người thường hay nói: “Con giận người đó hai, ba chục năm không quên.” Giận hai, ba chục năm không quên thì nghe như khẳng khái lắm nhưng thật ra là dại, là khổ, chớ có hay gì đâu.
Quí Phật tử nghĩ trên thế gian này chung quanh mình nào xóm giềng, thân tộc v.v… có bao giờ hoàn toàn không đụng chạm nhau đâu? Người ta nói vợ chồng như chén trong sống. Chén úp trong sống thế nào cũng có khua, huống là xóm giềng, thân tộc làm sao vừa ý mình hết, mà trái ý thì mình giận. Giận rồi chứa trong tâm. Chứa là cố chấp. Giận một người chứa trong lòng, giận hai người cũng chứa trong lòng. Nếu giận một trăm người thì sao? Chứa cả một trăm cái giận trong lòng, làm sao chịu nổi.
Quí vị xét khi mình đang vui vẻ mà bỗng nhớ tới người mình giận thì lúc đó gương mặt quạu xuống liền. Sở dĩ chúng ta ngủ không ngon là cũng tại giận đó. Khi nào nằm nhớ lại hôm qua, hôm kia ai làm trái ý mình liền nổi giận lên, thì hết ngủ. Đó là chứa chấp oán hờn. Chứa chấp là khổ. Ta đang vui vẻ tươi mát mà chứa một cái giận, cũng như đem cục than bỏ trong tay hay trong da, trong thịt mình vậy. Nếu cục than bỏ trong tay, trong da, trong thịt thì sao? Nóng, khó chịu. Vậy mà lòng mình chứa một trăm cục than thì người này khổ nhiều ít? Khổ thứ nhất là khô héo vì ngủ không ngon, ăn không ngon. Giận quá làm sao ăn ngon, ngủ ngon được. Khổ thứ hai là giận làm cho mình dễ xấu. Quí vị thấy mỗi lần nổi giận lên gương mặt mình thế nào? Nổi giận lên thì con mắt đỏ ngầu, mặt đổi màu đổi sắc, không còn tốt đẹp nữa. Cả trăm cái giận ở trong lòng thì nó đốt riết mình khô héo, xấu xa. Như vậy ôm ấp cái giận mấy chục năm là khôn ngoan hay thiếu khôn ngoan?
Bởi vậy nên người biết tu ai nói gì trái ý, mình giận chút rồi bỏ đi, xả đi. Giận làm chi, ngu! Ôm cái giận là ngu chớ không phải khôn, tội gì ôm cho khổ. Trong nhà Phật có câu: “Tăng hận bất cách túc” nghĩa là Tăng (người tu) giận không quá một đêm. Chúng ta là Phàm tăng nên tham sân si cũng còn, vì vậy gặp việc trái ý cũng giận. Nhưng giận chút thôi rồi bỏ, chớ không nên chấp chứa.
Người thế gian thường thích chứa, chứa năm này qua năm nọ. Họ tưởng như vậy là hay, là khôn mà không ngờ đó là tự chuốc họa vào mình, tự đeo khổ cho mình chớ không có lợi gì hết. Vì vậy nên Phật dạy phải xả hết những giận hờn. Chứa chấp vừa bị khổ trong hiện tại, mà còn khổ cả vị lai nữa.
Trong kinh Phật dạy, người khi sắp bỏ thân này qua đời khác thì nghiệp thương và nghiệp ghét sẽ đi theo. Bởi vì thương ai thì ta nhớ người đó, ghét ai cũng nhớ kẻ đó. Như chúng ta ngồi ôn lại trong lòng, thì nhớ những người mình thương và những người mình ghét nhiều nhất phải không? Ghét không mất, thương cũng không mất. Vì vậy càng chứa sâu thì khi nhắm mắt các nghiệp đó dẫn mình đi đến chỗ thương hoặc chỗ ghét.
Do đó khi chúng ta thọ thân sau, nếu ôm ấp nghiệp ghét nhiều quá thì đến những gia đình gặp toàn chuyện buồn phiền, hờn giận, không vui. Có bao giờ chúng ta muốn gặp những người mình ghét không? Không muốn. Ai cũng muốn gặp người mình thương. Nhưng trong lòng thù oán nhiều quá thì nó sẽ dẫn mình gặp lại những người thù oán. Nên hiện tại khổ mà vị lai cũng khổ luôn. Điều này rất thiết yếu.
Chúng ta phải khéo đừng nuôi dưỡng oán thù trong lòng, nên buông bỏ hết. Cái gì qua rồi không chứa chấp nữa. Hơn thua, phải quấy, chuyện đó không có gì quan trọng. Quan trọng ở chỗ làm sao cuộc sống mình bình an, thanh thản, tươi vui. Đó mới là điều đáng lưu tâm. Chúng ta sống muốn hạnh phúc, muốn được an lạc thì nên giữ hay nên xả? Nên xả.. Vì vậy tôi nói tu muốn cho hết khổ thì phải xả, đừng chứa chấp. Đó là điều thứ hai.
Điều thứ ba, chúng ta đừng cố chấp ý kiến mình là đúng, ý kiến người khác là sai. Bởi vì ở thế gian này không có gì là đúng cố định mà cũng không có gì là sai cố định. Chúng ta mở miệng nói với ai cũng “Tôi nghĩ thế này là đúng”. Nếu nói tôi nghĩ như vậy là đúng, người thứ hai nói tôi nghĩ thế khác mới đúng, thì hai cái đúng nó đụng nhau. Mình đúng theo cái nghĩ của mình, người khác đúng theo cái nghĩ của họ. Ai cũng đúng hết thì cãi lộn hay huề? Thế gian không ai chịu thua ai, mình đúng thì người khác sai, mà người khác đúng thì mình sai. Cho nên khi người ta nghĩ khác với mình, mà họ cho rằng họ đúng thì mình bực lên liền, và người kia cũng nổi tức vậy. Hai cái nổi tức sẽ đi đến khẩu chiến. Khẩu chiến không xong thì tới thân chiến.
Như vậy chỉ một chữ Xả mà chúng ta được an ổn vui tươi. Cần gì phải nhiều. Một chữ mà biết tu là cả cuộc đời sống thoải mái, an vui. Ngược lại quí vị sẽ thấy mặt mày nhăn nhó hoài, bất mãn cái này, bất mãn cái nọ, bất mãn con cái, bất mãn vợ chồng, bất mãn xã hội… Mấy chục năm cứ nhăn nhó hoài, uổng một cuộc đời. Cho nên mình phải vui tươi xả bỏ, có mấy mươi năm ngắn ngủi, sống làm sao cho thảnh thơi, tạo phước lành để khi nhắm mắt được đến cõi lành, ở đó mà buồn giận làm chi cho khổ.
Vậy mong quí Phật tử nghe hiểu, ứng dụng tu để tất cả chúng ta sống trên thế gian này lúc nào cũng tươi cười, không còn buồn bực. Đến lúc nhắm mắt ra đi chúng ta cũng vui luôn. Đó là kết quả tốt đẹp của người Phật tử khéo tu.